Hình ảnh các dây thần kinh sọ bình thường trên kỹ thuật MRI Steady-State Free Precession (Phần 2)

Dây thần kinh V: Thần kinh sinh ba
Thần kinh sinh ba là thần kinh sọ lớn nhất. Nó gồm một rễ cảm giác lớn chạy phía trong rễ vận động nhỏ hơn. Các rễ hiện ra từ phía ngoài cầu não giữa và chạy ngang về phía trước qua bể trước cầu não và lỗ thần kinh sinh ba để vào khoang Meckel, một túi chứa dịch não tuỷ ở hố sọ giữa (hình 10). Vì thần kinh sinh ba lớn và đường chạy của nó tiếp tục đi thẳng về phía trước từ phía ngoài cầu não nên dễ nhận thấy trên hầu hết các hình MRI.


Hình 10. Dây thần kinh sinh ba. Hình axial SSFP dày 0.8mm cho thấy rễ cảm giác (đầu mũi tên) và rễ vận động  (mũi tên lớn) của thần kinh sinh ba chạy ngang qua bể trước cầu não và đi vào khoang Meckel (mũi tên nhỏ).

Trong khoang Meckel, thần kinh tạo nên một mạng hình mắt lưới, có thể được nhìn thấy chỉ trên hình phân giải cao (hình 11). Dọc theo mặt trước của khoang, thần kinh hình thành hạch Gasser (hạch thần kinh sinh ba) trước khi tách thành ba phân nhánh. Ngành mắt (V1) và ngành hàm trên (V2) của thần kinh di chuyển về phía trong vào xoang hang và thoát ra xương sọ qua khe ổ mắt trên và lỗ tròn, theo thứ tự. Ngành hàm dưới (V3) gồm các nhánh vận động thoát ra xương sọ ở phía dưới qua lỗ bầu dục.

Hình 11. Dây thần kinh sinh ba. Hình coronal SSFP độ dày 0.8mm ngang mức khoang Meckel cho thấy mạng lưới phức tạp của các nhánh thần kinh sinh ba (mũi tên), kết hợp lại vế phía trước để hình thành hạch Gasser. Cũng thấy được sừng thái dương của não thất bên (đầu mũi tên).

Dây thần kinh VI: thần kinh vận nhãn ngoài
Dây thần kinh vận nhãn ngoài hiện lên từ các nhân phía trước não thất IV, rồi chạy về phía trước qua cầu não đến chỗ nối hành-cầu não và vào bể trước cầu não (hình 12). Sau khi đi ngang qua bể trước cầu não theo hướng sau-trước, thần kinh vận nhãn chạy dọc theo mặt sau xương bản vuông (clivus), nằm trong bao sợi gọi là ống Dorello (hình 13). Sau đó dây thần kinh tiếp tục đi qua đỉnh xương đá phía trong và đi qua xoang hang phía trong, vào hốc mắt qua khe ổ mắt trên d0ể dẫn truyền thần kinh cho cơ thẳng ngoài.

Hình 12. Thần kinh vận nhãn ngoài. Hình axial SSFP độ dày 0.8mm ngang mức chỗ nối hành-cầu não cho thấy cả hai dây thần kinh vận nhãn ngoài (mũi tên) ở đó chúng chạy ngang qua bể trước cầu não. Đáy cầu não (p) và đỉnh hành não (m) nhìn thấy ở lát cắt này, góc cầu tiểu não (CPA) và động mạch thân nền (đầu mũi tên) là các mốc giải phẫu quan trọng.

Hình 13. Thần kinh vận nhãn ngoài. Hình axial SSFP độ dày 0.8mm ngang mức chỗ nối hành-cầu não cho thấy  thần kinh vận nhãn ngoài đi vào ống Dorello (mũi tên) dọc theo mặt sau của xương bản vuông. Các điểm mốc mạch máu gồm động mạch thân nền (đầu mũi tên đen) và động mạch tiểu não trước dưới (đầu mũi tên trắng).
Cần nhớ rằng, thần kinh vận nhãn ngoài hầu như chạy suốt toàn bộ chiều dài của xương bản vuông. Điểm cần nhớ: Các bác sĩ X quang cần phải cảnh giác với các bất thường xương bản vuông và đỉnh xương đá trong trường hợp liệt thần kinh vận nhãn ngoài. Mặc dầu thần kinh vận nhãn ngoài nằm gần động mạch tiểu não trước dưới và có khẩu kính như nhau, hai cấu trúc này chạy theo các hướng trực giao và vì vậy dễ phân biệt được (hình 13)

Các dây thần kinh sọ VII và VIII: các dây thần kinh mặt và tiền đình-ốc tai.
Thần kinh VII và VIII có đường đi như nhau trong ống tai trong và trong bể (hình 14). Cả hai đều hiện lên từ mặt ngoài bờ dưới cầu não và chạy ngang bể góc cầu tiểu não theo một góc chéo. Ở đó, chúng ở rất gần động mạch tiểu não trước dưới. Sau đó, các dây thần kinh chạy qua lỗ ống tai trong (lỗ giữa bể góc cầu tiểu não và ống tai trong) và chạy ngang theo chiều dài ống tai trong. Hình ảnh X quang mô tả chính xác mối tương quan của các dây thần kinh với khối choán chỗ ở góc cầu tiểu não có thể giúp lập kế hoạch phẫu thuật (hình 15).

Hình 14. Hình axial SSFP độ dày 0.8mm, thấy các đường đi song song của thần kinh mặt (đầu mũi tên đen) và thần kinh tiền đình trên (đầu mũi tên trắng) khi chúng chạy ngang góc cầu tiểu não để vào ống tai trong qua lỗ ống tai trong (mũi tên đôi).

Hình 15a. U màng não góc cầu tiểu não ở bệnh nhân nữ 52 tuổi bị điếc tiếp nhận bên trái. (a) Axial SSFP độ dày 0.8mm cho thấy u lấp đầy ống tai trong (mũi tên) và lan vào bể góc cầu tiểu não. Mối liên quan giữa u và các dây thần kinh VII, VIII không được chỉ ra rõ rệt. (b) Hình coronal oblique độ dày 0.8mm cho thấy liên quan trực tiếp dây thần kinh mặt (đầu mũi tên), chống chỉ định phẫu thuật cắt bỏ u. U được điều trị bằng xạ phẫu định vị.

Hình 15b. U màng não góc cầu tiểu não ở bệnh nhân nữ 52 tuổi bị điếc tiếp nhận bên trái. (a) Axial SSFP độ dày 0.8mm cho thấy u lấp đầy ống tai trong (mũi tên) và lan vào bể góc cầu tiểu não. Mối liên quan giữa u và các dây thần kinh VII, VIII không được chỉ ra rõ rệt. (b) Hình coronal oblique độ dày 0.8mm cho thấy liên quan trực tiếp dây thần kinh mặt (đầu mũi tên), chống chỉ định phẫu thuật cắt bỏ u. U được điều trị bằng xạ phẫu định vị.

Trong ống tia trong, thần kinh tiền đình ốc tai tách thành 3 phần (ốc tai, tiền đình trên và tiền đình dưới). Ba nhánh thần kinh tiền đình – ốc tai này, cùng với dây thần kinh mặt, có hình ảnh đặc trưng trên hình sagittal oblique SSFP (hình 16). Các hình ở mặt phẳng này thường dùng nhất để phát hiện bất sản thần kinh ốc tai.

Hình 16a. Bất sản thần kinh ốc tai ở bé gai 4 tuổi điếc tai bẩm sinh xem xét ghép ốc tai. Hình sagittal oblique SSFP độ dày 1mm, thực hiện ở mặt phẳng vuôing góc với ống tai trong bên trái (a) và bên phải (b), cho thấy các nhánh chính của thần kinh mặt và thần kinh tiền đình ốc tai  theo thiết diện ngang. Các mặt trước (A), sau (B), trên (S) và dưới (I) được đánh dấu để dễ định hướng. Trên cả a và b, thấy dây thần kinh mặt (mũi tên trắng), tiền đình trên (đầu mũi tên trắng) và tiền đình dưới (đầu mũi tên đen); tuy nhiên, thần kinh ốc tai (mũi tên đen ở a) không có ở b, dấu hiện này là chống chỉ định ghép ốc tai ở tai phải. Sự tách biệt không hoàn toàn dây thần kinh tiền đình trên và dưới cũng cho thấy ở b, là biến thể bình thường.

Trên bất kỳ một mặt cắt axial đơn độc, thường chỉ nhìn thấy được hai trong 4 dây thần kinh này trong ống tai trong. Nếu một trong các dây thần kinh này nhìn thấy đi vào cột ốc tai (modiolus), thì hai dây thần kinh nhìn thấy được là dây thần kinh ốc tia và tiền đình dưới. Nếu cột ốc tai trung tâm không thấy được trên hình này, thì các dây thần kinh nhìn thấy được là thần kinh mặt và dây tiền đình trên. Một khuyết lấp đầy trong mê đạo màng trên hình SSFP có thể là tín hiệu bất thường thần kinh ở nhánh của thần kinh mặt hoặc thần kinh tiền đình ốc tai.

Thần kinh mặt thoát ra ống tai trong và đi vào ống mặt qua cống Fallop ở mặt trước của thanh Bill. Sau khi chạy phức tạp trong đỉnh xương đá, thần kinh mặt thoát ra đáy sọ qua lỗ trâm-chũm và đi vào tuyến nước mang tai.

Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh (Sưu tầm)
CAO THIÊN TƯỢNG
Appearance of Normal Cranial Nerves on Steady-State Free Precession MR Images1

 Hình ảnh các dây thần kinh sọ bình thường trên kỹ thuật MRI Steady-State Free Precession (Phần 1)

26C Chu Văn An, P. Bình Hiên, Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng

Liên hệ làm việc

Liên hệ làm việc

(+84)0236.2222055

Liên hệ email:

Liên hệ email:

cskh@benhvienphunu.vn

Đặt lịch khám trực tuyến

Đặt lịch khám trực tuyến

Đặt lịch khám